PGS-TS Phạm Ngọc Đính, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ khuyến cáo, bệnh thuỷ đậu tuy chưa thành dịch tại các tỉnh phía Bắc, nhưng cũng rất nhiều ca mắc. Đối với căn bệnh này, đã có vắc-xin phòng ngừa, do đó, ngoài việc giữ vệ sinh, tránh nước và gió cho các cháu khi đã mắc bệnh, việc tiêm chủng là biện pháp phòng hữu hiệu nhất. Hiện tại, vắc-xin phòng bệnh thủy đậu đã có tại trung tâm y tế dự phòng, các địa điểm tiêm chủng. Loại vắc-xin này hầu như không có tác hại phụ; khoảng 5% sốt nhẹ sau khi tiêm, có tác dụng miễn dịch lâu dài.
1. Bệnh Thủy đậu là gì?
Bệnh Thủy đậu dân gian còn gọi là bệnh phỏng rạ ( miền Bắc) hay bệnh trái rạ (miền Nam), là bệnh truyền nhiễm cấp tính, do virus Varicella – Zoster virus gây ra, siêu vi trùng này được tìm thấy ở dịch hầu họng và ở trong nước của các bóng nước. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là sốt, phát ban và mụn nước trên da, niêm mạc, ban mọc nhiều đợt cách nhau 3 – 4 ngày.
2. Nguyên nhân gây bệnh:
- Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Bệnh Thủy đậu lây trực tiếp qua đường hô hấp khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi dịch hầu họng và nước bọt bắn ra chung quanh, người lành hít phải bị lây bệnh.
- Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua đồ dùng có dính chất tiết dịch hầu họng, nước dịch của bóng nước vỡ ra.
- Bệnh nhân có thể lây bệnh cho người khác trước 24 giờ đến 7 ngày sau khi xuất hiện mụn nước.
3. Triệu chứng: thể thông thường
Bệnh sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh. Với các triệu chứng:
- Sốt nhẹ, biếng ăn, mệt mỏi, đau mỏi cơ khớp.
- Nổi lên những dát đỏ nhanh chóng phát triển thành mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 – 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ 2 – 3 mm dường kính, chứa dịch trong. trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn, hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước có màu đục do chứa mủ.
- Đôi khi ở niêm mạc miệng, họng có xuất hiện mụn nước sau tạo các vết loét gây khó khăn trong việc ăn uống.
- Ngứa nhiều nơi mụn nước.
- Một số trường hợp kèm theo viêm đường hô hấp: đau rát họng, ho, khạc đờm.
- Bệnh kéo dài 7 – 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo. Trường hợp nhiễm trùng có thể để lại sẹo.
4. Biến chứng:
Là bệnh lành tính, nhưng nếu không được phát hiện sớm, không được chăm sóc chu đáo, không được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh sẽ nặng và gây nhiều biến chứng:
- Viêm da: để lại sẹo sâu.
- Viêm phổi: với các triệu chứng đau ngực, khó thở, tím tái, ho ra máu.
- Viêm não, viêm cầu thận, viêm gan, viêm cơ tim: Hiếm gặp.
5. Điều trị:
Không có thuốc đặc trị. Chủ yếu theo dõi và kiểm soát các triệu chứng:
- Hạ sốt, giảm ngứa, các loại vitamin, vệ sinh da bằng xanhmethylen, xúc miệng nước muối.
- Không cào gãi gây trầy xước da.
- Mặc quần áo thoáng mát, tắm nước ấm hàng ngày.
- Phòng thoáng, tránh gió lùa.
- Nếu có bội nhiễm dùng kháng sinh.
- Ăn lỏng, ấm, đủ dinh dưỡng . . .
6. Phòng bệnh:
- Cần cách ly ngay khi có nốt bóng nước đến 7 ngày, hạn chế tiếp xúc với người khác, đeo khẩu trang khi tiếp xúc.
- Khử khuẩn đồ dùng cá nhân hàng ngày bằng nước sôi.
- Chích ngừa vaccin.
Đoàn Nhung (P5)