Tai Luong
--°C --:--
★ Điểm thi và thời gian tiếp nhận đơn phúc khảo phần thi tự luận kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Về việc tổ chức nhập học Đại học chính quy tuyển mới năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Kết quả xét tuyển Phương thức 1 tuyển sinh khóa 8 đào tạo trình độ đại học Công an nhân dân đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ Điểm thi và thời gian tiếp nhận đơn phúc khảo phần thi tự luận kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Về việc tổ chức nhập học Đại học chính quy tuyển mới năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Kết quả xét tuyển Phương thức 1 tuyển sinh khóa 8 đào tạo trình độ đại học Công an nhân dân đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026
50 NĂM TRƯỚC VÀ NHỮNG VẦN THƠ XUÂN DẬY SÓNG…
26/02/2018
Đã sao chép!

 

Còn nhớ, vào tháng 12/1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968. Trên cơ sở phân tích khách quan, khoa học tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam, Bộ Chính trị kết luận: “Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình chung cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Từ nhận định này, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn miền Nam. Hưởng ứng chủ trương đó của Bộ Chính trị và Bác Hồ, cả dân tộc ta vào cuộc; các loại hình văn học nghệ thuật cũng vào cuộc. Bởi thế, mùa Xuân này, những vần thơ Xuân đã được thể hiện phần lớn là những vần thơ Xuân dậy sóng - những vần thơ Xuân đã trực tiếp đóng góp tích cực trong Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

 

Có thể nói, đây cũng là mùa Xuân mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta có nhiều bài thơ Xuân đặc biệt nhất. Trong một bài viết của mình, ông Đàm Chu Văn có nhận định rằng: “Trên thế giới, có nhiều dân tộc, nhiều quốc gia đem văn chương phục vụ chiến đấu nhưng lấy một bài thơ làm mệnh lệnh chỉ huy chiến đấu cho cả dân tộc thì có lẽ chỉ mới có dân tộc Việt Nam”. Mùa Xuân này, ta hãy lắng nghe và cảm nhận một bài thơ Xuân như thế của Bác Hồ :

 

 “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua

 Thắng trận, tin vui khắp nước nhà

 Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

 Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

 (Mừng Xuân 1968 - Hồ Chí Minh)

 

Giao thừa năm ấy, dứt lời Bác đọc thơ: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” là cả miền Nam, quân và dân ta đồng loạt trút bão lửa lên đầu quân xâm lược và bè lũ bán nước. Ôi, thật thần kỳ về một bài thơ Xuân mang mệnh lệnh tiến công! Mùa Xuân ấy, mặc dù Bác đang đi nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở nước ngoài, nhưng Bác luôn theo dõi sát sao và động viên kịp thời những chiến công của quân và dân ta. Trị Thiên - Huế mùa Xuân năm ấy đã đồng loạt nổi dậy và tiến công vào 40 mục tiêu của địch ở cả nội và ngoại thành, làm chủ thành phố trong gần một tháng và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi. Trong những chiến công vang dội này, có chiến công huyền thoại của 11 cô gái sông Hương đã anh dũng đánh lui nhiều đợt phản công của địch làm cho kẻ thù bạt vía kinh hồn. Bác nghe tin liền gửi thư khen và tặng 11 cô gái sông Hương bài thơ: “Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường/ Khôn ngoan dàn trận khắp phố phường/ Bác khen các cháu dân quân gái/ Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương!”. Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp chiến trường miền Nam dồn dập bào về làm xúc động lòng Người. Trong niềm vui chiến thắng ấy, Người đã làm bài thơ “Không đề” để trải nỗi lòng mình: “Đã lâu không làm bài thơ nào/ Nay lại thử làm xem ra sao/ Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy/ Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao!”. Bài thơ Xuân này nhanh chóng lan xa. Cố nhà thơ Chế Lan Viên đã nói về bài thơ Xuân “độc đáo” này rằng : Tại một cuộc họp ở Pari vào mùa Xuân 1968, khi nghe Bộ trưởng Hoàng Minh Giám đọc bài thơ tứ tuyệt này, cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào… Vẫn trong không khí của mùa Xuân chiến thắng này, Bác viết tiếp một bài thơ Xuân bằng chữ Hán - Bài “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân), bài thơ được dịch là: “Tháng tư hoa nở một vườn đầy/ Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi/ Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá/ Hoàng Oanh vút tận chân trời/ Trên trờ mây đến rồi đi/ Miền Nam thắng trận báo về tin vui”. Mùa Xuân này, Bác luôn nghĩ đến miền Nam, hướng về miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt, nên ngay cả trong những bài thơ “Không đề” viết bằng chữ Hán viết về quyết tâm kiêng rượu, bỏ thuốc của mình, Bác cũng nhắc đến miền Nam yêu thương, và đây là bản dịch:“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,/ Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần./ Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,/ Một năm là cả bốn mùa Xuân”…

 

Bên cạnh những vần thơ Xuân dậy sóng của Bác là những vần thơ Xuân như phấn chấn, như thúc dục, như hòa nhập vào tiếng súng tiến công của quân và dân miền Nam của nhà thơ Tố Hữu. “Bài ca Xuân 68” của nhà thơ như tiếng kèn vang dội non sông: “Anh chị em ơi!/ Hãy gương súng lên cao, chào Xuân 68/ Xuân Việt Nam/ Xuân của lòng dũng cảm…”. Nhà thơ gọi mùa Xuân này là “Xuân Việt Nam” - Mùa Xuân của một đất nước đang làm nên một sự kiện vang dội và nổi bật nhất trên thế giới lúc bấy giờ, góp phần làm nên bộ mặt và tầm vóc của thời đại. Vẻ đẹp Việt Nam như được tạc vào thế kỷ: “Hoan hô anh giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất!/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời/ Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi/ Một dây ná, một cây chông, cũng tiến công giặc Mỹ/ Không tự ngắm mình, anh chẳng hay đâu hỡi chàng dũng sĩ/ Cả năm châu chân lý đang nhìn theo…”. Vâng, cả đất nước đang dõi theo các anh, cả thế giới, năm châu bốn bể cũng đang dõi theo các anh, các anh đó, không phải là những chàng dũng sĩ khổng lồ mà chỉ là những chàng trai với những “chiếc mũ vải mềm dễ thương như một bàn tay nhỏ/ Chẳng làm đau một chiến lá trên cành/ Sáng trên đầu như một mảnh trời xanh/ Mà xông xáo, mà tung hoàng ngang dọc/ Mạnh hơn tất cả đạn bom/ Làm rung chuyển cả lầu Năm Góc”. Không những thế, trong bài thơ, nhà thơ đã báo hiệu thời khắc quan trọng mở màn của“Phút giao thừa đang chuyển…” mà không hề làm “lộ quân cơ” qua mấy dòng kêu gọi: “Tổ quốc ta! Hai mươi ba năm đau khổ/ Gian nan, bền gan kháng chiến/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!/ Hỡi bốn phương và những chiến trường xa/ Xin lắng nghe… Phút giao thừa đang chuyển/ Bác Hồ gọi. Ấy là mùa Xuân đến…”. Đoạn cuối bài thơ là sự dự cảm và tiên đoán về những cơn bão lửa ở khắp thành thị, nông thôn miền Nam: “Hoan hô Xuân 68 anh hùng!/ Hãy gầm lên như sấm sét đùng đùng/ Tất cả pháo! Và xông lên, dũng sĩ!/ Như khí phách Trần, Lê. Như oai vũ Quang Trung/ Khắp thành thị nông thôn/ Đánh tan đầu Mỹ, nguỵ!/ Vì Độc lập, Tự do, núi sông hùng vĩ/ Vì thiêng liêng giá trị Con người/ Vì muôn đời hoa lá xanh tươi/ Ta quyết thắng. Giành mùa Xuân đẹp nhất!”. Mùa Xuân năm 2018 này, đọc lại “Bài ca Xuân 68” của cố nhà thơ Tố Hữu ta càng thấm thía tài thơ và sự dự cảm sáng suốt của người con xứ Huế anh hùng. Một người con xứ Huế khác, một nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà văn hóa nổi tiếng cũng đã có một số bài thơ về mùa Xuân không thể nào quên này. Đó chính là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Vâng, trên mảnh đất “Đây thôn Vĩ Dạ” này, trong một lần tình cờ được gặp lại nhà thơ, ông đã kể lại cho chúng tôi nghe về xuất xứ của những bài thơ, như “Đất nước”, như “Lời ru trên nương” và cả bài thơ “Đất ngoại ô” nói về cuộc tiến công và nổi dậy ở kinh thành Huế vào mùa Xuân 1968 ấy, rồi ông đọc cho chúng tôi nghe với chất giọng Huế nhẹ nhàng mà rắn rỏi: “Có bao giờ như buổi sáng Xuân nay/ Chúng ta bay, nghìn độ lửa, ta bay/ Đất đuổi giặc, đất vươn dài bén gót/ Mang Cá tan hoang, Phú Bài vỡ mặt/ Ngoại ô mở rồi trăm lối ta băng băng/ Trái tim hồng lắp đầu súng chống tăng/ Ta đã lớn, ơi em, đồng chí/ Dưới mái xưa nhìn theo ta ứa lệ/ Sức trăm năm nay chuyển xuống lòng đường/ Cả ngoại ô làm chiến luỹ sông Hương/ Bắn tàu giặc như lá vàng héo rụng/ Em gái cứu thương, em trai cầm súng/ Mẹ may cờ, em nhỏ đón văn công/ Cửa Uỷ ban rực rỡ cờ hồng.../ Cảm ơn mẹ sinh con trên thành phố ngàn ngày/ Nắng và mưa, mười lăm năm bỡ ngỡ/ Nay con lại chào người dưới một vùng đạn lửa/ Người đẹp vô cùng với khẩu súng trong tay”(“Đất ngoại ô” - Nguyễn Khoa Điềm). Mùa Xuân 1968 này, còn có những văn nghệ sĩ cũng trở thành những chiến sĩ theo sát những đoàn quân điệp điệp trùng trùng. Họ không những góp những vần thơ mà còn góp cả những tiếng súng tiến công. Một trong những nhà thơ đó có nhà thơ Lê Anh Xuân. Nhà thơ đã anh dũng hi sinh ngay trên cửa ngõ Sài Gòn. Trước khi hi sinh, nhà thơ đã để lại “một dáng đứng Việt nam tạc vào thế kỷ”: “Anh gục xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng/ Trông thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng/ Có thằng gục xuống chân anh tránh đạn/ Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công” (“Dáng đứng Việt Nam” - Lê Anh Xuân). Một hình ảnh bình dị nhưng lẫm liệt và cao đẹp lạ thường. Đó là hình ảnh của những giây phút làm nên lịch sử; hình ảnh của những cái chết đã hóa thành bất tử; hình ảnh của người chiến sỹ giải phóng trong chân lý sinh ra … Có phải thế chăng, mà lúc bấy giờ, hình anh của anh giải phóng quân đã trở thành hình ảnh của đất nước Việt Nam kiên trung đang đứng lên dám chiến đấu và chiến thắng. Có nơi đâu như ở đất này, trong đánh giặc mà vẫn giở những vần thơ người xưa ra đọc. Đọc những vần thơ căm thù, những vần thơ lửa cháy thuở đánh Tây mà tiếp lửa cho cuộc chiến chống Mỹ hôm nay. Đó là trường hợp của nhà thơ Hưởng Triều, trong Tổng tấn công vẫn đọc Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu: “Đầu Xuân lớp lớp sóng xô/ Điều binh mấy đợt, phất cờ tấn công/ Sài Gòn trúc chẻ ngói tan/ Ô Qua giặc dữ kinh hoàng ngẩn ngơ!/ Cụ Đồ ơi những vần thơ/ Trăm năm thành đạt giấc mơ anh hùng!” (“Trong Tổng tấn công đọc Lục Vân Tiên” - Hưởng Triều).


Năm tháng qua đi. Nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam mùa Xuân 50 năm trước vẫn mãi còn là một mốc son lịch sử. Và những vần thơ Xuân của mùa Xuân năm ấy vẫn tiếp tục dậy sóng và trường tồn cùng với thời gian…■