Tai Luong
--°C --:--
★ Điểm thi và thời gian tiếp nhận đơn phúc khảo phần thi tự luận kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Về việc tổ chức nhập học Đại học chính quy tuyển mới năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Kết quả xét tuyển Phương thức 1 tuyển sinh khóa 8 đào tạo trình độ đại học Công an nhân dân đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ Điểm thi và thời gian tiếp nhận đơn phúc khảo phần thi tự luận kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ thi tuyển sinh tuyển mới VB2CA đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Về việc tổ chức nhập học Đại học chính quy tuyển mới năm 2026 ★ THÔNG BÁO: Kết quả xét tuyển Phương thức 1 tuyển sinh khóa 8 đào tạo trình độ đại học Công an nhân dân đối với công dân đã có bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên năm 2026
Ngắm tranh dân gian nhớ Tết cổ truyền
09/02/2017
Đã sao chép!

 

Tranh Tết miền Bắc chỉ phát triển quanh vùng châu thổ sông Hồng. Lan vào miền Trung thi sẽ ngưng lại khoảng ngang Nghệ Tĩnh. Vào sâu hơn chút nữa thì sẽ gặp một nét văn hóa khác là kinh thành Huế, màu sắc dân gian ở đây sẽ là thứ ngũ sắc Huế, rất rực rỡ, vui tươi, nhưng vẫn có nhiều khác biệt với tranh Tết Bắc Hà.

 

Tranh Gà rất phong phú, còn lưu lại ngày nay được khoảng mười bức vẽ khác nhau. Hầu hết là về gà trống. chỉ có đôi ba bức về gà mái. Bằng những màu sắc, đường nét dân dã nhưng mang tính ước lệ cao, những con gà trên tranh Đông Hồ đã cõng trên lưng mình cả một bầu tâm tư, khát vọng của những người nông dân thuở trước.

 

Đầu tiên phải kể đến là bức Gà mẹ đang túc mồi cho con. Đàn gà con tung tăng chạy nhảy, kiếm ăn, chơi đùa bên mẹ, có con nhảy lên nằm nghỉ trên lưng mẹ. Đấy là hình ảnh tượng trưng cho đời sống, phong tục nơi chốn thôn dã, đồng quê. Với đề tài đàn gà, giai thoại xưa kể lại khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho anh Phán Vinh, cụ Đám Giác đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: Bức Gà thư hùng. Tranh vẽ một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Trên tranh có dòng chữ Nôm “lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông”, một lời chúc thật sâu sắc! (Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh). Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên tạo nên tư thế chủ gia đình, che trở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình.

 

 

Ngôn ngữ của hội hoạ là đường nét và màu sắc, tuy nhiên, hội hoạ hiện đại  nhất là tranh trừu tượng, nhiều khi không có đường nét nào, không có hình thù gì, thậm chí màu sắc cũng chỉ là tối thiểu. Hội hoạ cổ phương Đông thì trái lại, ngoài đường nét, màu sắc, còn có cả chữ, hơn thế nữa còn có loại “tranh” chỉ có chữ, gọi là “Tự hoạ”, lối vẽ tranh này gọi là “Thư pháp”. Chữ giúp người xem hiểu ý đồ của tác giả hơn, chữ bổ xung thêm thông tin cho bức tranh, chữ là những lời bình luận về bức tranh, những lời chúc tụng cho chủ nhân bức tranh v.v… Chữ trong tranh có thể là thơ, là câu đối, tục ngữ, phương ngôn, hay có thể chỉ là một câu nói thường ngày nhưng ý nghĩa lại rất rộng, rất sâu.

Một bức tranh khác là “Vinh hoa” với hình ảnh chú bé khôi ngô ôm một con gà mái rất xinh đẹp, tất cả đều no tròn, mũm mĩm, bên cạnh là mấy cành hoa sen và lá, có bông đã nở rộ, có bông còn búp, tựa của bức tranh thay cho lời chúc tốt đẹp, may mắn và sung túc trong năm mới.

 

Tranh Gà Đại cát nghinh Xuân (đón Xuân tốt lành): Hai chú gà trống đối xứng nhau, hình thể, lông cánh, lông đuôi mang tính ước lệ hơn là tả thực. Chữ đại cát được tác giả đưa vào tranh đã đúc kết mong ước từ ngàn năm: mưa thuận gió hoà; chăn nuôi thì mong các con vật hay ăn chóng lớn, khoẻ mạnh, con đàn cháu đống… Trong những tranh khác, chữ  tuy cũng là một phần trong bố cục của tranh, nhưng chữ chỉ chiếm một phần nhỏ, còn ở đây chữ và các hoa văn trang trí chiếm nửa bức tranh, tác giả đã nhấn mạnh ước vọng của người nông dân, đồng thời đó cũng là lời chúc tụng trong dịp xuân mới.

 

Gà dạ xướng, nhật minh: Một chú gà trống đứng co một chân (Kim kê độc lập, tư thế giống gà đại cát), mào, cánh, đuôi, lông mã được cách điệu rất đẹp. Trên tranh có chữ “Dạ xướng ng̣ũ canh hoà” (Đêm gáy năm canh đều đặn). Vế kia của tranh, vẫn chú gà đó quay trở lại, và dòng chữ “Nhật minh tam tác thuỵ” (Ngày mang tới ba điều lành). Theo quan niệm xưa, tiếng gà gáy xua tan tà ma, quỷ quái, mang tới may mắn.

  

Tranh gà thường vẽ gà trống vì một ý nghĩ nguyên thủy sâu xa: dán tranh gà trước cửa cũng là một loại bùa “trấn môn” để xua đuổi tà ma. Bởi khi gà trống cất tiếng gáy bình minh sẽ thức dậy, ma quỷ phải tháo chạy về phía bóng tối. Điều ấy là niềm tin của người phương Đông thời xưa, trong thơ của một danh sỹ thời Mạc – Tiến sỹ Hoàng Sỹ Khải, từng viết: “Tranh vẽ gà cửa treo thiếp yểm”. cho nên tranh gà trống có bức còn điểm thêm bài thơ có nghĩa là: “Phương đông xưa coi gà thần trừ ma quỷ/ Gà có móng sắt, đầu hoa, lông rực rỡ đủ màu/ Ngoài cổng gà bắt ma quỷ phải lui xa/ Trong nhà gà năm năm tăng hạnh phúc”. Vì thế mà gà trống ở bức tranh này xuất hiện rất hùng dũng, tráng khí, rất lộng lẫy và bề thế với mỏ khỏe, cựa dài, chân khỏe, cánh khỏe, đuôi sum suê, sặc sỡ.

 

Bức Kê cúc (gà trống bên cây cúc): Chú gà hùng dũng, một chân gân guốc xoạc ra, chân kia bám vào tảng đá, vươn mình lên như sắp gáy, mà cũng như sắp bước vào một trận quyết chiến. Nói theo cách của hội hoạ hiện đại, bức tranh này sử dụng bảng màu “tương túc” (tương phản và bổ túc). Hai màu tương phản: đỏ – xanh (tuy đỏ đã ngả nâu) và màu trung gian: vàng. Những chiếc lông cánh, lông đuôi của con gà: xanh, vàng, đỏ, rồi xanh, đỏ, vàng, có chỗ lại: xanh, đỏ, xanh cùng những mảng vàng lớn khiến cho thị giác người xem bị cuốn hút mạnh mẽ, chỉ có ba màu mà ta cảm thấy màu sắc như trùng điệp ấn tượng rất mạnh. Theo các nghệ nhân cao tuổi, hình ảnh gà trống oai phong, hùng dũng tượng trưng năm đức tính của người đàn ông: Văn, võ, dũng, nhân, tín. Cái mào đỏ tựa như chiếc mũ cánh chuồn, tượng trưng cho Văn. Chân gà có cựa sắc nhọn như kiếm, dùng để chọi, tượng trưng cho Võ. Thấy địch thủ, gà trống dũng cảm xông vào, chiến đấu đến cùng, biểu thị của Dũng. Kiếm được mồi cùng gọi nhau ăn, biểu thị của Nhân. Hàng ngày gà gáy sang canh không bao giờ sai, nó đánh thức mọi người dạy đúng giờ, biểu thị của Tín. Trên tranh không có chữ gì nhưng một bài thơ vịnh chú gà này của nghệ nhân Hiền Năng lại được truyền tụng. Bài thơ có tám câu mà đã sử dụng tới bốn câu phương ngôn về con gà qua bài thơ Gà trống:

“Xưa vốn cùng chung một mẹ mà

Khôn ngoan đá đáp với người ta

Gáy lên bạn hỡi xem trời sáng

Báo để người nghe tỉnh giấc ra

Rõ vẻ giống tông đầu mỏ thế

Lẽ đâu ăn quẩn cối xay nhà

Mặc ai vờ vịt trông ra quốc

Thực giống Hồ đây chẳng phải pha.”

Một nhà thơ đất Bắc cũng đã từng vẽ lại qua mấy nét phóng bút:

“Bác thợ lật giấy

Con gà đứng dậy

Ô sao bỗng thấy

Mắt gà chớp nhanh

Mắt bác không chớp...

Nòi gà để lại

Từ đời cha ông

Ấm bằng hơi thở,

Nuôi bằng tấm lòng

Tấm lòng ngàn xưa

Ngàn sau nở mãi

Trẻ như cô gái

Khỏe như lúa đồng…”

Ngày nay, dù thời thế đã đổi thay lắm rồi, con gà trống ấy vẫn tiếp tục gáy chào những buổi bình minh đất nước, để canh giữ phần nào hồn nước, để gìn vàng giữ ngọc quê tổ trước những buổi thăng trầm vẫn đang tiếp diễn.

“Bác thợ ngắm tranh

Thấy lòng vỗ cánh

Thấy đời lại xanh

Ôi người nghệ sỹ

Tên là dân gian

Góp cùng Trời Đất

Con gà Việt Nam

Gà từ trong tranh

Gà ra cuộc đời

Gáy lên! Gà ơi!”.

Bảo Bình (tổng hợp)