Nhà cao tầng gồm các công trình từ 10 tầng trở lên, hoặc nhà ở có tầng hầm và cao từ 9 tầng trở lên (không tính tầng hầm); nhà có chiều cao từ 25 m trở lên (chiều cao nhà được xác định bằng chiều cao bố trí của tầng trên cùng không kể tầng kỹ thuật trên cùng; còn chiều cao bố trí của tầng được xác định bằng khoảng cách từ mặt đường cho xe chữa cháy tiếp cận tới mép dưới của cửa sổ mở trên tường ngoài của tầng đó).
Hiện nay, số lượng chung cư cao tầng trong cả nước xấp xỉ 3.000 tòa nhà, mặc dù công tác kiểm tra an toàn PCCC của lực lượng tại chỗ diễn ra thường xuyên, tuy nhiên những vấn đề liên quan đến việc bảo đảm an toàn PCCC cho công trình chỉ được phát hiện khi các cơ quan chức năng kiểm tra định kỳ hoặc khi sự cố đã xảy ra. Qua công tác kiểm tra cho thấy, nhiều chung cư cao tầng có lắp đặt hệ thống PCCC nhưng công tác vận hành, bảo trì, bảo dưỡng còn mang tính hình thức. Vì vậy, tại rất nhiều công trình dù được trang bị đầy đủ các thiết bị PCCC nhưng khi xảy ra sự cố lại không sử dụng được.
Bên cạnh đó, kiến thức và kỹ năng xử lý tình huống ứng phó với sự cố cháy, nổ của người dân còn thấp, hầu hết thường hoảng loạn, mất bình tĩnh dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới nguy cơ mất an toàn PCCC các nhà, chung cư cao tầng nhưng nổi bật trong đó là do đặc điểm kiến trúc, bố trí công năng sử dụng, đặc điểm kỹ thuật các hệ thống của toà nhà và công tác bảo đảm an toàn PCCC trong quá trình sử dụng. Đặc điểm kiến trúc của nhà, chung cư cao tầng Nhà càng cao tầng thường có diện tích không gian sử dụng lớn, công năng sử dụng phức tạp, mật độ con người tập trung đông, tồn chứa nhiều khối lượng vật tư, thiết bị hàng hóa, chất dễ cháy. Lối thoát nạn chính là các buồng thang bộ (giao thông theo trục đứng) nên khi xảy ra sự cố, mật độ dòng người thoát nạn tăng nhanh khiến cho tốc độ và lưu lượng thoát nạn gặp nhiều khó khăn và chậm hơn so với di chuyển theo phương ngang, dẫn tới thời gian thoát nạn kéo dài. Khi có cháy tại các chung cư cao tầng, toàn bộ các tầng ở trên tầng bị cháy sẽ bị đe dọa bởi các yếu tố như lửa, khói, khí độc bốc lên từ đám cháy lan truyền dọc theo chiều cao công trình. Tốc độ, áp lực của gió càng trên cao càng lớn làm tăng tốc độ cháy lan và mức độ phức tạp của đám cháy. Hành lang giữa và các buồng thang bộ trong nhà cao tầng nếu không có giải pháp bảo vệ sẽ là các con đường lan truyền lửa, khói, hơi nóng, khí độc từ đám cháy lên các tầng trên và lan ra toàn nhà, đồng thời cản trở việc thoát nạn và đe doạ tính mạng những người chưa thoát kịp ra khỏi toà nhà.
Đặc điểm bố trí công năng của nhà, công trình cao tầng Nhà, chung cư cao tầng thường có có kết cấu gồm khối đế và khối cao tầng với nhiều loại công năng kết hợp như văn phòng, trung tâm thương mại, nhà trẻ, lớp học, dịch vụ ăn uống, giải trí, gara để xe.. Do vậy, các nhà cao tầng càng nhiều công năng thì nguy cơ cháy, nổ càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn về người và tài sản bên trong công trình. Một số đặc điểm về thoát nạn như: số lượng người đông, với tình trạng sức khỏe và độ tuổi khác nhau dẫn tới khó khăn phức tạp trong công tác thoát nạn và tổ chức các hoạt động cứu hộ, cứu nạn từ trên cao, đặc biệt đối với người già và trẻ em (không đủ sức khỏe mở cửa buồng thang khi hệ thống quạt tăng áp buồng thang hoạt động, thời gian di chuyển qua buồng thang bộ từ trên cao xuống các tầng dưới kéo dài…). Tập trung nhiều hàng hóa, vật liệu là chất dễ gây cháy nổ, nhất là ở khu vực trung tâm thương mại, khu vui chơi, giải trí, rạp chiếu phim, biểu diễn ca nhạc, sân khấu sử dụng nhiều phông rèm, vật liệu cách âm dễ cháy. Tại tầng hầm bố trí nhiều hạng mục nguy hiểm, tồn chứa nhiều chất cháy như gara để xe, trạm biến áp, kho hàng, hầm chứa rác… Tại khu vực này, khi có cháy xảy ra thì đám cháy phát triển nhanh, tạo nhiều khói độc hại và lan truyền nhanh lên trên qua các lỗ hở thông tầng, cầu thang hở… gây nguy hiểm cho người dân sinh sống trong công trình. Hiện nay, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế cho loại hình này chưa đồng bộ dẫn tới trong quá trình thiết kế phải tự “vận dụng, sáng tạo” từ các cơ sở thiết kế khác nhau như: Phần nhà ở thiết kế theo bộ tiêu chuẩn nhà ở cao tầng, phần trung tâm thương mại lấy theo tiêu chuẩn thiết kế chợ, trung tâm thương mại, phần văn phòng lại lấy theo tiêu chuẩn thiết kế nhà văn phòng hiện hành… Điều này làm phát sinh xung đột về những phần không gian dùng chung như sảnh, thang máy, thang bộ, hành lang… Đặc biệt là các vấn đề đảm bảo an toàn PCCC công trình. Kiến trúc nhà cao tầng hiện nay chủ yếu coi trọng hình thức bên ngoài, chạy theo lợi nhuận đầu tư và tăng diện tích sàn bán được; thiết kế quá nhiều căn hộ trên 01 tầng nhà và liên tục theo chiều cao của tòa nhà, dẫn đến nguy hiểm khi có sự cố và mất cân đối khi sử dụng tiện nghi của tòa nhà, do quá đông người cùng sinh sống. Cũng do tiết kiệm về tiện ích để tăng diện tích căn hộ ở nên thiết kế các tòa nhà cao tầng có hành lang tầng có chiều dài lớn, không có khoảng ngừng nghỉ, lấy ánh sáng, không khí và không có khả năng tiếp cận đến các lối thoát hiểm trong khoảng cách 25 m theo quy định.
Trong quy chuẩn QCVN 06/2020/BXD quy định, rõ việc thiết kế thang bộ thoát nạn của nhà, chung cư cao tầng có chiều cao trên 28 m phải có ít nhất 01 thang bộ loại N1 tiếp xúc trực tiếp với không gian bên ngoài nhà. Nhưng xu hướng bố trí hệ thống thang theo kiểu tiết kiệm diện tích nên thường đặt trong không gian lõi nhằm tạo điều kiện tối đa thiết kế các căn hộ hướng ra mặt tiền nên nhiều trường hợp thang thoát nạn bị vây kín, thiếu không khí và ánh sáng tự nhiên. Trường hợp có cháy xảy ra trong nhà cao tầng, thường gây nên hậu quả nghiêm trọng cho người sử dụng.
Đặc điểm các hệ thống kỹ thuật của nhà, chung cư cao tầng Nhà, chung cư cao tầng thường được bố trí nhiều hệ thống kỹ thuật như: Trạm biến áp, máy phát điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống gas trung tâm… Do đó chỉ cần một trong những hệ thống kỹ thuật gặp sự cố hoặc sử dụng không đúng quy trình cũng có thể gây mất an toàn về PCCC. Các hệ thống cung cấp năng lượng, đặc biệt là hệ thống cung cấp gas là nguy cơ rất lớn gây ra các vụ hỏa hoạn trong nhà chung cư, hầu như thiết kế còn bị thả lỏng, thiếu các quy định về thiết kế cần thiết. Mặt khác, việc thiết kế chỉ sử dụng các loại vật liệu thi công xây dựng và hoàn thiện không bảo đảm chất lượng, không phù hợp với tòa nhà và căn hộ chung cư có thể gây nên các vấn đề về an toàn sử dụng trong trường hợp có các sự cố xảy ra. Đặc điểm của hệ thống PCCC Như đã nêu trên, chất lượng của quá trình thiết kế và lắp đặt thiết bị PCCC trong nhà, chung cư cao tầng là rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới các điều kiện an toàn PCCC của công trình. Qua kiểm tra an toàn PCCC ở một số cơ sở nhà, chung cư cao tầng cho thấy còn nhiều thiếu sót, sai phạm liên quan tới chất lượng thiết bị PCCC, cụ thể là: - Không thiết kế, lắp đặt hệ thống báo cháy tự động, hệ thống chữa cháy tự động đúng theo quy định của tiêu chuẩn; - Không có bể dự trữ nước cho chữa cháy, hoặc có nhưng chung với bể nước sinh hoạt và không đủ dung tích dự trữ như quy định của tiêu chuẩn. Nguồn nước cấp vào bể yếu, không đảm bảo phục hồi đủ nước chữa cháy trong thời gian 24 giờ; - Không có trạm bơm chữa cháy cố định (chỉ có một máy bơm xăng di động), không trang bị đầy đủ các trang bị phương tiện chữa cháy, cứu hộ cần thiết; - Có bố trí trạm bơm chữa cháy nhưng công suất máy bơm không đảm bảo lưu lượng, áp lực để chữa cháy ở các tầng cao. Một số công trình thiết kế cấp nước chữa cháy theo kiểu tự chảy từ bể nước trên mái, như vậy không đảm bảo lưu lượng và áp lực chữa cháy, nhất là cho các tầng trên cùng; - Bố trí các họng nước chữa cháy không bảo đảm theo yêu cầu mỗi điểm cháy phải có 02 họng cùng phun đến...; - Chỉ có một buồng thang thoát nạn, nhưng buồng thang hở, không đảm bảo yêu cầu chống cháy, chống khói hoặc có thiết kế buồng thang kín nhưng không có hệ thống điều áp buồng thang, hoặc có nhưng áp lực yếu không đảm bảo yêu cầu chống tụ khói trong buồng thang; - Bố trí, lắp đặt hệ thống chiếu sáng sự cố và chỉ dẫn lối thoát nạn không bảo đảm theo quy định; - Chỉ có một nguồn điện cho máy bơm chữa cháy, không có nguồn điện dự phòng hoặc máy phát điện dự phòng; - Cửa ngăn cháy không đảm bảo về giới hạn chịu lửa theo tiêu chuẩn; - Chất lượng các hệ thống, thiết bị PCCC chưa đảm bảo yêu cầu như: hệ thống báo cháy hay báo giả hoặc không hoạt động sau một thời gian sử dụng; đường ống cấp nước chữa cháy bị rò rỉ, không duy trì được áp lực chữa cháy theo yêu cầu; máy bơm chữa cháy (chủ yếu là bơm xăng) hay bị hư hỏng, trục trặc; hệ thống đèn chiếu sáng sự cố thường bị hỏng ác quy sau một thời gian hoạt động.v.v. Thiết bị PCCC được trang bị tại công trình qua thời gian sử dụng đã xuống cấp, chưa được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời; chủ đầu tư không trang bị, bảo dưỡng các thiết bị, phương tiện PCCC hoặc những toà nhà sau khi hoàn thiện, chủ đầu tư đã bán hết các căn hộ nên không còn quản lý. Vì vậy, không có Ban quản lý và không có kinh phí để đầu tư cho hoạt động PCCC. Phương án chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn công trình được xây dựng không phù hợp với đặc điểm thực tế của tòa nhà; nhiều cơ sở không tổ chức thực tập phương án chữa cháy, cứu nạn định kỳ theo quy định. Không phổ biến, hướng dẫn người dân sống trong tòa nhà các biện pháp thoát nạn khi sự cố xảy ra. Giải pháp bảo đảm an toàn PCCC đối với nhà, chung cư cao tầng
- Giải pháp về quy hoạch, thiết kế

Quy hoạch, thiết các công trình cao tầng cần đảm bảo các yêu cầu về không gian, giao thông, khoảng cách đảm bảo an toàn PCCC.
Giải pháp về quy hoạch Giao thông phục vụ chữa cháy: Đối với các dự án nhà, chung cư cao tầng xây dựng mới cần quy hoạch bảo đảm về đường giao thông, bãi đỗ xe phục vụ chữa cháy, chiều rộng của mặt đường xung quanh công trình phải từ 3,5 m cho mỗi làn xe. Chiều cao thông thuỷ từ 4,25 m. Với các khu vực phố cổ, phố cũ trong nội đô các thành phố lớn Việt Nam, do điều kiện đặc thù, không thể áp dụng hoàn toàn các tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định do: Hạ tầng giao thông cũ, mật độ dân cư đông đúc, việc triển khai các hoạt động chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ rất khó khăn. Do đó, cần chủ động đầu tư cho công tác phòng cháy với phương trâm “bốn tại chỗ”. Phải bảo đảm các yêu cầu về khoảng cách an toàn PCCC của công trình với các hạng mục, công trình xung quanh, trong đó khoảng cách từ 2 công trình có bậc chịu lửa I, II phải lớn hơn hoặc bằng 6 m. Trong trường hợp khoảng cách không đảm bảo, phải xem xét đến khoảng cách từ mép tường công trình đến đường ranh giới khu đất để nội suy ra phần trăm diện tích được mở tại các lỗ mở trên tường đầu hồi tiếp giáp với công trình bên cạnh. Nhà cao tầng phải nghiêm túc thực hiện công tác thẩm duyệt thiết kế, nghiệm thu về PCCC, đây là yếu tố quyết định các giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn PCCC sau này của công trình. Chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Phòng cháy chữa cháy, Nghị định số 136/2020/NĐ-CP của Chính phủ và các Thông tư của Bộ Công an quy định về thẩm duyệt thiết kế và nghiệm thu về PCCC đối với các công trình xây dựng. Trong quá trình thực hiện thiết kế, thẩm duyệt, nghiệm thu về PCCC phải tuân thủ đúng các yêu cầu kỹ thuật theo quy chuẩn, tiêu chuẩn về PCCC (QCVN 06:2020/BXD, QCVN 04:2019/BXD, QCVN 13:2018/BXD, QCVN 03:2012/BXD, TCVN 3890:2009….). Bên cạnh đó để phù hợp với điều kiện tại Việt Nam, công tác thiết kế phải lưu ý thực hiện các giải pháp sau: Giải pháp về thiết kế Về kiến trúc công trình: Đa số các công trình cao tầng đều thiết kế theo dạng khối kín. Vì thế, khi xảy ra sự cố cháy nổ, thì hành lang căn hộ và hệ thống cầu thang bộ là lối thoát nạn duy nhất giúp người dân thoát nạn. Khi thiết kế kiến trúc, lối hành lang phải thông thoáng gió và tận dụng ánh sáng tự nhiên, hệ thống cầu bang bộ thoát nạn phải bảo đảm theo quy định. Đề xuất giải pháp cần phân cách khoảng không thoát khí, thoát nạn, hạn chế cháy nổ theo cả chiều ngang và chiều cao của công trình cao tầng. Khuyến cáo tổ hợp công trình cao tầng nên chia thành nhiều hơn 02 khối, tạo khoảng hở trên cả phân vị đứng lẫn phân vị ngang, nhưng hạn chế không làm giếng trời trong lõi các tòa nhà.
Áp dụng quy định đối với các công trình cao trên 100 m phải bố trí tầng lánh nạn, trên tầng lánh nạn phải bố trí gian lánh nạn bảo đảm các yêu cầu theo tiêu chuẩn. Khuyến khích việc bố trí giữa các sàn có công năng khác nhau như: Căn hộ ở - dịch vụ thương mại - ga ra ô tô thì có 01 tầng trống làm tầng lánh nạn. Nếu từ 02 khối nhà trở lên thì các khoảng trống, hở có kết nối với nhau bằng hành lang ngang, nhà cầu trên cao để di chuyển con người, hàng hóa khi có cháy nổ tại 01 công trình trên 01 vị trí. Cần có giải pháp ngăn cháy khi bố trí giếng trời trong thiết kế nhà, chung cư cao tầng, bởi vì giếng trời được quây xung quanh bởi các gian phòng dễ trở thành họng xả phân phối khói, khí độc cho các tầng. Ngoài ra, giếng trời này còn là những ống khói khổng lồ đủ để cung cấp không khí cho sự cháy. Theo nghiên cứu, tốc độ đám cháy có dạng ống khói cao gấp 30 lần so với một đám cháy lộ thiên trên mặt đất. Bố trí không gian đa chức năng: Trong các công trình cao tầng thường bố trí với nhiều công năng khác nhau, do vậy phải tuân thủ các quy định của quy chuẩn, tiêu chuẩn khi thiết kế, bố trí các không gian hợp lý như: Nơi tập trung đông người (khối thương mại, hội trường, nhà trẻ mẫu giáo…) phải được bố trí ở tầng thấp để đảm bảo thoát nạn thuận lợi và nhanh chóng trong công tác cứu nạn. Khu vực gara để xe ô tô, xe máy… thường có nguy cơ cháy, nổ cao, do đó giải pháp tối ưu nhất là cần tách khu vực gara thành khối nhà riêng với khối nhà làm chung cư, để giảm thiểu nguy cơ cháy nổ, khuyến khích xây dựng theo kiến trúc bãi nổi với không gian mở hoàn toàn để đảm bảo thoáng gió và không tồn khói, khí độc. Đối với trường hợp phải bố trí trong cùng khối nhà, các gara để xe không được bố trí quá 05 tầng hầm đối với nhà có bậc chịu lửa bậc I và không quá 03 tầng hầm với nhà có bậc chịu lửa bậc II, và khuyến cáo việc bố trí dưới nhà có công năng làm nhà trẻ, mẫu giáo, bệnh viện… Không bố trí các phòng ở, phòng tập trung đông người dưới tầng hầm. Đối với các căn hộ, nên thiết kế bếp phía trong, hạn chế đặt bếp nằm liền kề cửa ra vào căn hộ và hướng ra hành lang, sảnh chung tạo nên một “lõi năng lượng” của tòa nhà. Khi có sự cố cháy, “lõi năng lượng” này dễ lây lan thông qua hệ thống gas trung tâm dùng trong sinh hoạt. Và trong trường hợp này, hệ thống thang thoát bộ thoát nạn là đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng. Đây là việc tối kỵ khi cầu thang thoát hiểm theo phương đứng không sử dụng được. Không bố trí ở tầng hầm các phòng máy biến áp, bồn dầu; nếu bố trí máy biến áp ở tầng hầm phải là máy biến áp khô và không quá tầng hầm thứ nhất… Phải bố trí phòng trực điều khiển chống cháy cho tòa nhà, phòng trực phải đảm bảo ngăn cháy với các khu vực khác, có lối ra ngoài trực tiếp. Lối ra mái bố trí trực tiếp từ các buồng thang bộ hoặc đi qua tầng áp mái hoặc đi theo cầu thang bộ loại 3, hoặc đi theo thang chữa cháy ngoài nhà. Thiết kế bậc chịu lửa và giải pháp ngăn cháy lan: Công trình cao tầng phải được thiết kế với bậc chịu lửa I và được xác định bằng giới hạn chịu lửa của các cấu kiện chính cũng như vật liệu để làm các cấu kiện đó. Cần có quy định bậc chịu lửa khác nhau giữa các tầng, không nên đánh đồng tầng dưới chịu nhiệt như tầng trên cao. Chia khoang ngăn cháy bằng tường ngăn, màn ngăn, cửa sập chống cháy (quy định diện tích 01 khoang cháy tại tầng hầm không quá 3000 m2, tầng nổi không quá 2200 m2 và được tăng lên không quá 4400 m2 khi lắp đặt hệ thống chữa cháy tự động). Việc sử dụng tường gạch có tính chất truyền nhiệt cao không phải là biện pháp tối ưu để chống cháy, vì yêu cầu của hệ thống tường chống cháy phải bao gồm cả hai yếu tố: Tính toàn vẹn hệ thống và tính cách nhiệt. Tường ngăn bằng thạch cao với cấu tạo rỗng và sử dụng vật liệu tấm thạch cao không cháy đem lại khả năng chống cháy tốt cho hệ thống, thỏa mãn cả hai yêu cầu toàn vẹn hệ thống và cách nhiệt.
- Một số giải pháp về trong vận hành, sử dụng công trình cao tầng
Theo Cục Cảnh sát PCCC&CNCH