Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QHXV được Quốc hội thông qua ngày 18/02/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2025. Luật Tổ chức Chính phủ đã cụ thể hóa 03 chính sách lớn, gồm: (1) Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước ở Trung ương (Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam); (2) Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và mối quan hệ giữa các cơ quan của Chính phủ; (3) Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với chính quyền địa phương. Theo đó, Luật Tổ chức Chính phủ đã thể hiện tinh thần đổi mới của Quốc hội trong công tác lập pháp và tinh thần đổi mới của Chính phủ trong đề nghị xây dựng Luật, một số điểm mới cụ thể như sau:
(1) Về kết cấu và số lượng điều luật: Luật Tổ chức Chính phủ có 5 Chương, 32 Điều (so với Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), giảm 02 Chương, giảm 18 Điều), bảo đảm tính kế thừa và khái quát cao.
(2) Lần đầu tiên, Luật Tổ chức Chính phủ thiết kế 04 Điều về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền, ủy quyền, là căn cứ pháp lý quan trọng mang tính nguyên tắc để phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp và là căn cứ pháp lý để các Luật sau này quy định về quyền hạn của các chủ thể trong quản lý nhà nước (phân quyền). Đặc biệt làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp.
(3) Các quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ đã làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với tư cách là người đứng đầu Bộ và là thành viên của Chính phủ; mối quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với chính quyền địa phương.
(4) Một số giải pháp để kịp thời tháo gỡ những nút thắt và vấn đề chồng chéo trong các quy định của luật chuyên ngành. Theo đó, Luật Tổ chức Chính phủ đã quy định điều khoản chuyển tiếp (có tính chất ủy quyền lập pháp), giao Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn và quy định khác có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đang được quy định trong các điều, khoản, điểm có liên quan tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thống nhất áp dụng.
(5) Tính đồng bộ, thống nhất giữa Luật Tổ chức Chính phủ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Theo đó, Luật Tổ chức Chính phủ được thiết kế để đảm bảo tính đồng bộ, liên thông với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, thể hiện thống nhất trong hệ thống pháp luật; cả 02 luật đã đồng nhất trong các quy định về điều khoản chuyển tiếp.
Hoàng Hải (Khoa Nghiệp vụ cơ bản)
Nguồn: Tài liệu giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025